Bệnh trầm cảm: Nguyên nhân + Triệu chứng + Cách điều trị

0
61

Trầm cảm (depression) chủ yếu là một chứng rối loạn tâm trạng, là bệnh thuộc tâm thần học đặc trưng bởi sự rối loạn sắc khí. Bệnh gây ra cảm giác buồn bã, mất hứng thú kéo dài, tức giận gây cản trở đến hoạt  động hằng ngày của mọi người.

Một số người mắc bệnh trầm cảm mà không nhận thức được triệu chứng này. Trong khi những người khác cảm thấy khó khăn khi thừa nhận mình bị trầm cảm. Để hiểu rõ hơn về căn bệnh này, hãy tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé !

Bệnh trầm cảm là gì ?      

Trầm cảm là một căn bệnh tâm thần nguy hiểm, khiến người bệnh suy sụp tinh thần lẫn thể xác. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới WHO thì mỗi năm cướp đi sinh mạng khoảng 850.000 người. Có một thực tế ít ai biết là: 80% trong số chúng ta mắc trầm cảm trong một thời điểm nào đó của cuộc đời.

Đến năm 2020 bệnh trầm cảm được xếp thứ 2 những căn bệnh phổ biến toàn cầu. Căn bệnh này không chỉ ảnh hưởng đến thần kinh, nghiêm trọng hơn bệnh có thể dẫn đến tử vong.

Bệnh trầm cảm kéo dài trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần nó sẽ khiến bạn khó làm việc trong hoặc vui vẻ với gia đình hoặc bạn bè. Những trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn bạn đến ý định tự tử.

Trầm cảm là nguyên nhân của hơn 50% trường hợp tự sát. Trầm cảm do nhiêu nguyên nhân khác nhau nhưng gặp tỉ lệ cao ở các đối tượng thất nghiệp, phá sản, ly hôn, phụ nữ sau sinh…..

Trầm cảm là bệnh không còn quá xa lạ, cần được quan tâm và điều trị. Bệnh có thể được điều trị khỏi hoàn toàn, do đó cần thăm khám và điều trị kịp thời.

Triệu chứng của bệnh trầm cảm

Triệu chứng trầm cảm khá đa dạng và ở mỗi người gặp phải trầm cảm theo nhiều cách khác nhau. Một số người sẽ có triệu chứng ngủ nhiều hơn, có người lại khó ngủ, người lại ăn nhiều hơn, người thì buồn bã tuyệt vọng,….Loại và mức độ của triệu chứng có thể thay đổi theo cá nhân và có thể thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên vẫn có những triệu chứng trầm cảm nhẹ thường xuất hiện như:

  • Cảm thấy buồn bã, muốn khóc, trống rỗng, tuyệt vọng.
  • Thay đổi thói quen ăn uống – sụt cân và không muốn ăn hoặc thèm ăn kèm tăng cân. Người bệnh không có cảm giác ngon miệng, không muốn ăn, thậm chí có trường hợp nhịn ăn hoàn toàn.
  • Thay đổi giấc ngủ – ngủ quá nhiều hoặc không đủ. Triệu chứng mất ngủ chiếm 95% số bệnh nhân trầm cảm. Bệnh nhân được coi là mất ngủ khi ngủ ít hơn 2 tiếng mỗi ngày. Bệnh nhân có thể thức cả ngày lẫn đêm dẫn đến suy nhược cơ thể.
  • Luôn cảm thấy mệt mỏi, gặp khó khăn, không có động lực làm việc gì.
  • Mất hứng thú với những người và những hoạt động đã từng mang lại niềm vui cho bạn. Cảm giác mệt mỏi, nặng nề không muốn làm việc, đi đứng chậm chạp, luôn cảm thấy mình không đủ sức khỏe đề làm việc.
  • Cảm thấy khô khan chai sạn.
  • Dễ bị kích động hay nổi nóng.
  • Cảm thấy mình làm gì cũng không đủ tốt.
  • Sử dụng nhiều đồ uống có cồn hoặc chất gây nghiện.
  • Dành nhiều thời gian trên Internet.
  • Mất tập trung, gặp khó khăn trong suy nghĩ, hoặc lên kế hoạch – cứ như đầu bạn bị phủ sương mù.
  • Không quan tâm tới sức khỏe thể chất và vẻ bề ngoài của bạn.
  • Nghĩ đến việc chạy trốn hoặc trốn tránh trách nhiệm.
  • Nghĩ đến cái chết hoặc tự tử, có ý tưởng về cách kết thúc cuộc đời mình.
  • Sức khỏe không đủ để đề kháng và liên tục mắc phải các bệnh như: đau đầu, rối loạn tiêu hóa, và đau cổ và lưng mạn tính…

Trong thực hành lâm sàng tại các cơ sở chăm sóc sưc khỏe ban đầu đa khoa hoặc nội khoa. Rất nhiều người bệnh bị trầm cảm đã bị nỏ sót. Đó là vì các triệu chứng không điển hình hoặc triệu chứng trầm cảm bị che lấp (Giống các triệu chứng bệnh nội khoa khác). Bác sĩ gọi là các dạng trầm cảm che dấu, trầm cảm ẩn.

Nguyên nhân trầm cảm là gì?

Bệnh trầm cảm bị gây nên bởi nhiều nguyên nhân: Có thể là nguyên nhân riêng lẻ khác nhau hoặc là kết hợp của nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên một số nguyên nhân gây nên bênh trầm cảm phổ biến hiện nay gồm:

  • Gen di truyền: Nếu bạn có người thân trong gia đình từng bị trầm cảm thì tỉ lệ bị bệnh trầm cảm sẽ cao hơn người bình thường.
  • Các chất hóa học trong não: Theo một số nghiên cứu, thành phần các chất hóa học trong não người mắc bệnh trầm cảm khác với người bình thường.
  • Stress hay mệt mỏi kéo dài: Người thân yêu qua đời, những khó khăn trong mối quan hệ tình cảm hay bất cứ tình huống gây stress mệt mỏi cũng có thể gây ra bệnh trầm cảm.
  • Sang chấn tâm lý: Khi sang chấn tâm lý, tình thần bị mất cân bằng dễ dẫn đến trầm cảm như: Sẩy thai, gia đình có người mất, nhận được tin sốc, tai nạn,….
  • Nội tiết tố thay đổi: Mang thai, sau sinh, mãn kinh…
  • Người mắc bệnh mãn tính: Đa số người mắc các bệnh mãn tĩnh nguy hiểm sẽ có tâm lý lo sợ, có xu hướng tuyệt vọng dẫn đến trầm cảm.
  • Sử dụng chất kích thích, gây nghiện: Các chất gây nghiện như rượu bia, thuốc lá, ma túy….đều có đặc điểm chung là gây kích thích hệ thần kinh tạm thời. Lâu dần sẽ khiến cho hệ thần kinh ảnh hưởng nặng khiến người bệnh đi vào trạng thái trầm cảm, cơ thể mệt mỏi, trí lực suy giảm, ức chế….
  • Trầm cảm có thể không rõ nguyên nhân (Trầm cảm ẩn, trầm cảm che dấu).

Những người có khả năng cao mắc bệnh trầm cảm

– Gặp một việc làm sang chấn tâm lý: Phá sản, nợ nần, người thân mất, hôn nhân đổ vỡ, Con cái hư hỏng phá phách, áp lực về công việc, mất hết tiền của….

– Phụ nữ sau sinh: Sau sinh con khoảng vài tuần chiếm 1 tỷ lệ khá lớn cần được phát hiện kịp thời

– Đối tượng học sinh, sinh viên: áp lực học tập và lượng thông tin quá lớn: nhiều bài vở, thi cử dồn dập, áp lực từ cha mẹ thầy cô,

– Sau tổn thương thực tổn: chấn thương sọ não,…

– Rối loạn trầm cảm ở phụ nữ tuổi mãn kinh: Cũng như trầm cảm sau sinh, sự sụt giảm đột ngột của estrogen và progesterone ở giai đoạn ngay trước và ngay sau thời điểm mãn kinh, cùng với những thay đổi về tâm lý xã hội (con cái đi xa, về hưu, mất thể chủ động trong cuộc sống,…) có thể làm tăng nguy cơ rối loạn trầm cảm ở phụ nữ tuổi mãn kinh

– Người cao tuổi: Đây cũng là nhóm đối tượng mắc bệnh lý trầm cảm, nhưng lại ít được chú ý và phát hiện.

– Bệnh trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên

  • Tâm trạng của trẻ thường dễ thay đổi, dễ vui, dễ buồn, dễ khóc và dễ cười.
  • Tuy nhiên khả năng đối phó của trẻ với hoàn cảnh thường là không tốt.
  • Vì vậy trẻ dễ bị trầm cảm khi gặp những hoàn cảnh không thuận lợi như: bố mẹ ly dị, bị xúc phạm hay bị bỏ rơi, đặc biệt đối với trẻ tàn tật, năng lực kém hay quá nhạy cảm.

– Tiền sử mắc các bệnh mãn tính: đái tháo đường, bệnh tim, bệnh Parkinson, ung thư.

– Lạm dụng thức uống có cồn và các chất kích thích khác

Các loại trầm cảm thường gặp

Trầm cảm không phải là một căn bệnh thực thể, nó xuất hiện vô hình một cách lặng lẽ mà chúng ta không thể cầm hay sờ nắn nó. Trầm cảm có nhiều dạng và dấu hiệu, triệu chứng, biểu hiện ở mỗi dạng cũng khác nhau. Dưới dây là một số dạng trầm cảm thường gặp phải.

Trầm cảm nặng

Loại trầm cảm này xuất hiện đơn độc, suốt đời chỉ có một cơn. Trước đây loại trầm cảm nặng hay còn được gọi là hiện tượng trầm uất, trầm cảm kích động. Bệnh lý trầm cảm kéo dài trên 2 tuần, gây sự đau buồn làm ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày.

Trầm cảm nhẹ

Thường xuất hiện đơn độc, nhưng mức độ nhẹ hơn trầm cảm nặng. Loại này không gây sự đau buồn và trở ngại đối với hoạt động hàng ngày. Bệnh thường kéo dài ít nhất 2 tuần; không xuất hiện hiện tượng hoang tưởng, ảo giác.

Trầm cảm xuất hiện từng giai đoạn

Trầm cảm tái diễn nhiều đợt và có thể xen kẽ với giai đoạn hưng cảm. Giữa các giai đoạn trầm cảm và hưng cảm là thời kỳ khí sắc bình ổn hoàn toàn.

Loại trầm cảm này còn được gọi là bệnh loạn thần hưng trầm cảm. Tỉ lệ mắc bệnh ở nam nữ tương đương nhau. Sau tuổi trung niên thì giai đoạn trầm cảm thường xuất hiện nhiều hơn giai đoạn hưng cảm và thường kéo dài hơn.

Trầm cảm tái phát

Trầm cảm tái diễn thường có biểu hiện giống như loại trầm cảm nặng và trầm cảm nhẹ đã nêu trên. Tuy nhiên loại trầm cảm này không xuất hiện đơn độc mà tái diễn nhiều đợt trong đời người.

Giai đoạn trầm cảm kéo dài từ 3 – 12 tháng, trung bình khoảng 6 tháng. Bệnh khởi phát chậm, thường gặp ở độ tuổi từ 50. Hầu hết bệnh được phục hồi hoàn toàn và tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm loại này ở nữ ghi nhận gấp đôi nam.

Trầm cảm nặng và tái diễn

Tương tự như các bệnh trước kia gọi là trầm cảm, trầm uất, loạn thần hưng trầm cảm, trầm cảm sinh thể, trầm cảm nội sinh. Trong đời, con người ít nhất thường có hai giai đoạn trầm cảm nặng hay nhẹ tái diễn.

Mỗi giai đoạn thường kéo dài hơn 2 tuần, giữa hai giai đoạn trầm cảm sẽ có một thời kỳ lành bệnh ít nhất 6 tháng.

Trầm cảm mức độ nhẹ

Hiện tượng trầm cảm liên tục biểu hiện, đơn độc nhưng kéo dài. Nhiều trường hợp gần hết tuổi thanh niên, dẫn đến sự đau buồn và trở ngại cho sinh hoạt lao động, làm việc và học tập của người bệnh.

Bệnh có thể nặng lên và tiến triển như rối loạn trầm cảm tái diễn hay xen kẽ với các giai đoạn hưng cảm. Nếu các giai đoạn trầm cảm và hưng cảm xen kẽ nhau còn được gọi là khí sắc tuần hoàn. Nếu mức độ khí sắc trầm, nhẹ, kéo dài thì được gọi là loạn khí sắc.

Trầm cảm di chứng của các rối loạn khí sắc trầm cảm

Loại trầm cảm này biểu hiện đơn độc hoặc tái diễn nhưng với mức độ nhẹ, không kéo dài gồm các trạng thái: hỗn hợp trầm cảm và hưng cảm, trầm cảm ẩn, rối loạn xúc cảm khác không liên quan đến nghiện rượu, nghiện ma túy, rối loạn nội tiết  hay rối loạn tâm thần thực tổn.

Phân liệt cảm xúc

Với loại trầm cảm này biểu hiện các triệu chứng phân liệt và triệu chứng cảm xúc xuất hiện đồng thời, nổi bật như nhau.

Lưu ý thể trầm cảm xuất hiện sau cơn loạn thần cấp tính của bệnh tâm thần phân liệt không xếp vào loại trầm cảm này.

Các triệu chứng phân liệt ở bệnh nhân biểu hiện ý nghĩ vang lên thành tiếng nói ở trong đầu, bị những lực lượng xa lạ điều khiển, mưu hại; nghe thấy những tiếng nói gièm pha, buộc tội nhưng thực tế không có…

Hầu hết bệnh nhân được phục hồi hoàn toàn sau điều trị, một số ít trường hợp tiến triển thành thiếu sót phân liệt như thờ ơ với ngoại cảnh, có hành vi kỳ dị…

Các phương pháp có thể điều trị hiệu quả

Những phương pháp điều trị bệnh trầm cảm thường bao gồm thuốc, nói chuyện với một chuyên viên trị liệu hoặc bác sĩ tâm lý và phương pháp sốc điện.

Sử dụng thuốc trong điều trị trầm cảm.

Các thuốc được dùng là thuốc chống trầm cảm. Một số thuốc phổ biến như: escitalopram, paroxetine, sertraline, fluoxetine và citalopram.

Đây là các chất ức chế serotonin có chọn lọc (SSRI). Các loại thuốc khác là: venlafaxine, duloxeton và bupropion. Các loại thuốc chống trầm cảm này có thể có các tác dụng phụ như:

  • Đau đầu, buồn nôn;
  • Khó ngủ và căng thẳng;
  • Kích động hoặc bồn chồn;
  • Gây ra các vấn đề về tình dục.

Bạn cần chú ý khi sử dụng thuốc vì có thể khiến người dùng có ý nghĩ tự tử hoặc cố tự tử trước khi thuốc thực sự có tác dụng (đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên và những bệnh nhân đang bị kích động).

Một số thuốc giúp làm tăng giấc ngủ và cảm giác thèm ăn có thể được kê toa cho những bệnh nhân mắc các triệu chứng liên quan nhưng thường phải mất khoảng 2-3 tuần trước khi các thuốc này có tác dụng.

Liệu pháp tâm lý trị liệu

Sử dụng phương pháp tâm lý trị liệu sẽ giúp bạn có cách suy nghĩ và cư xử mới. Thay đổi các thói quen từng khiến bạn bị trầm cảm.

Ngoài ra liệu pháp này còn giúp bạn thấu hiểu và vượt qua những khó khăn trong các mối quan hệ hoặc các tình huống khiến bạn trầm cảm hay làm cho bệnh bớt trầm trọng hơn.

Liệu pháp sốc điện

Đối với bệnh trầm cảm nghiêm trọng, không thể chữa trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý. Bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp sốc điện.

Tuy nhiên liệu pháp này có thể gây ra các tác dụng phụ như lú lẫn hoặc mất trí nhớ, thường là chỉ trong ngắn hạn.

Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán trầm cảm?

Thông thường, bác sĩ sẽ chẩn đoán bệnh trầm cảm từ các triệu chứng và tiền sử bệnh trước đây. Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể yêu cầu thực hiện một số xét nghiệm khác như xét nghiệm máu, đánh giá tâm lý… để loại trừ các bệnh lý khác có thể gây ra các triệu chứng bạn đang gặp, xác định chẩn đoán và kiểm tra bất kỳ biến chứng nào liên quan.

Trên đây là tổng hợp một số phương pháp điều trị chứng trầm cảm. Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Phương pháp phòng ngừa chứng bệnh trầm cảm

Có nhiều thuốc hỗ trợ và liệu pháp thay thế để phòng ngừa bệnh trầm cảm. Một số phương pháp đã được kiểm nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng khoa hoc. Tuy nhiên nhiều phương pháp vẫn chưa được kiểm nghiệm. Dưới đây là một số phương pháp giúp ngăn chặn bênh trầm cảm hiệu quả:

  • Đừng tự cô lập mình;
  • Đơn giản hóa cuộc sống;
  • Tập thể dục thường xuyên;
  • Ăn uống đầy đủ dinh dưỡng;
  • Học cách thư giãn và kiểm soát căng thẳng;
  • Không nên đưa ra các quyết định quan trọng khi bạn đang cảm thấy chán nản;
  • Gọi bác sĩ nếu các triệu chứng nặng hơn;
  • Gọi bác sĩ nếu bạn gặp tác dụng phụ khi dùng thuốc;
  • Gọi bác sĩ ngay nếu bạn có ý định tự tử hoặc ý định giết hoặc làm hại người khác;
  • Gọi bác sĩ ngay nếu bạn có các triệu chứng rối loạn thần kinh như nghe thấy giọng nói, thấy những thứ không có ở đó hoặc cảm thấy bị hoang tưởng.

Trên đây là tổng hợp về bệnh trầm cảm. Những thông tin kể trên chỉ mang tính chất tham khảo. Hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ và chuyên gia để có phương pháp phòng ngừa và điều trị bệnh hiệu quả.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây